Menu

Ghép tế bào gốc tạo máu

Ghép tế bào gốc tạo máu
Ghép tế bào gốc tạo máu hay thường được gọi là ghép tủy là một phương pháp điều trị bệnh được ứng dụng nhiều trong ngành huyết học và ung thư học. Phương pháp này thực hiện quá trình cấy ghép tế bào gốc tạo máu lấy từ tủy xương huyết học, miễn dịch, di  truyền và một số bệnh lý ung thư khác. hoặc từ máu ngoại vi của bệnh nhân hay người cho vào cơ thể người bệnh để điều trị một số bệnh lý

 







1. Lịch sử ngành ghép tủy

Ngành ghép tủy thực sự phát triển bắt đầu sau sự bùng nổ của năng lượng và vũ khí hạt nhân năm 1945. Mặc dù trước đó đã có một vài nỗ lực của trong việc dùng tủy xương của người hiến đưa vào cơ thể người nhận là những bệnh nhân bị thiếu máu hay ung thư máu bằng đường uống, tiêm bắp hay truyền tĩnh mạch.Vào thời điểm này, ngành ghép tủy bắt đầu được nghiên cứu nhiều vì xuất hiện những bệnh nhân bị các bệnh lý máu ác tính do phơi nhiễm phóng xạ iôn hóa.



picture-171
Đang gạn tế bào gốc từ người cho



Chúng ta có thể điểm lại một số mốc quan trọng của ngành ghép tủy3:


  • Ca ghép tủy đầu tiên được ghi nhận năm 1939, thực hiện trên một bệnh nhân bị xơ tủy do kim loại nặng, tủy ghép lấy từ người anh ruột của bệnh nhân. Ca ghép này không thành công, bệnh nhân chết sau 5 ngày.
  • Ca ghép tủy được ghi nhận thành công đầu tiên là năm 1965, khi một bệnh nhân Bạch cầu lymphô cấp loại nguyên bào lynphô được điều trị bằng hóa trị và xạ trị, sau đó được truyền tế bào tủy xương từ 6 người hiến tủy khác nhau nhưng có liên hệ huyết thống. Bệnh nhân này tử vong sau 20 tháng vì bệnh tái phát.
  • Từ năm 1977 đến 1980, thành công trong nghiên cứu ghép tủy đồng loại. Cũng từ năm 1978, ghép tủy trong bệnh lymphôm bắt đầu có những thành công nhất định.
  • Năm 1990, E.D. Thomas đã được trao giải thưởng Nobel y học cho những nghiên cứu về ghép tủy.
  • Đến năm 2000, thì đã có hơn 500 000 trường hợp ghép tủy thực hiện trên toàn thế giới. Cho đến bây giờ ghép tủy đã được thử nghiệm nghiên cứu trong nhiều bệnh lý, cả ác tính lẫn không ác tính, đáng kể là ghép tủy khá hiệu quả trong điều trị các bệnh Suy tủy xương,  khi tủy hiến có HLA phù hợp người nhận, đặc biệt giữa anh chị em ruột.

2. Khái niệm về tế bào gốc:


Tế bào gốc tạo máu (HSC: Hematopoietic Stem Cell) đã được nghiên cứu hơn nửa thế kỷ nay và là một trong những lĩnh vực tiến bộ và nổi bật nhất trong y sinh học hiện đại. Tế bào gốc tạo máu là loại tế bào có thể thấy ở tủy xương và máu ngoại vi với một số lượng rất ít. Chúng tạo ra những tế bào máu và tế bào miễn dịch, đáp ứng cho sự đổi mới hằng định của máu. Tế bào gốc tạo máu có thể thu được từ nhiều nguồn khác nhau: tủy xương, máu ngoại vi, máu cuống rốn, hệ thống tạo máu bào thai... Ngày nay, ghép tế bào gốc tạo máu đã được sử dụng thường qui để điều trị những bệnh nhân bị bệnh ác tính cũng như những bệnh khác của máu và hệ thống miễn dịch. Những lĩnh vực ứng dụng mới của tế bào gốc tạo máu là ghép tế bào gốc tạo máu điều trị chống khối u cho những loại ung thư hiện chưa điều trị được, ghép tự thân để điều trị những bệnh tự miễn...



picture-182
Bệnh nhân đang được ghép tế bào gốc tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương


3. Mũi nhọn trong điều trị nhiều bệnh lý về máu


Trước đây, với các phương pháp điều trị hoá chất thông thường, cơ hội sống cho các bệnh nhân ung thư là rất nhỏ do lượng hoá trị được đưa vào cơ thể sẽ huỷ hoại chức năng của tuỷ xương. Từ thập kỷ 70, ghép tế bào gốc đồng loại(HCT) đã được sử dụng thành công như một cách thức điều trị cho những bệnh nhân bệnh máu ác tính. Cho dù có những nguy cơ vốn có, ghép đồng loại vẫn mang lại cho các bệnh nhân ung thư kháng với điều trị duy nhất một cơ hội cứu sống. Với khả năng tách tế bào gốc tạo máu của người cho để khôi phục chức năng của tủy xương, phác đồ điều kiện hóa bằng liều cao hóa chất và tia xạ được chỉ định để giảm tối đa tế bào ung thư, sau đó truyền các tế bào gốc tạo máu, nguồn tế bào từ tủy xương hay máu ngoại vi nhờ yếu tố kích thích sinh bạch cầu, mục đích để bệnh nhân hồi phục qua giai đoạn suy tủy xương. Vì vậy, đây là phương pháp tối ưu khắc phục được những tác dụng phụ không mong muốn của hóa chất liều cao. Ngoài ra, nhiều điều kỳ diệu được phát hiện khi ghép tế bào gốc đồng loại cho bệnh nhân bệnh máu ác tính. Đó là sau một thời gian điều trị bằng ghép tế bào gốc đồng loại vào cơ thể xảy ra hiện tượng các tế bào mới chống lại chủ. Nhưng ngay sau đó, các chuyên gia về tế bào gốc cũng nhận ra rằng đây là một lợi ích vô cùng quan trọng, các tế bào "chống chủ" này sẽ là nhân tố “chống  tế bào ung thư máu”.


          Bên cạnh đó, ghép tế bào gốc tạo máu tự thân cũng đã đã được ứng dụng rộng rãi trong điều trị rất nhiều bệnh lý khác nhau thuộc nhiều chuyên khoa như: các bệnh máu ác tính (đa u tủy xương, u lympho ác tính, lơxêmi), các ung thư dạng đặc (ung thư vú, ung thư thận), các bệnh tự miễn như viêm đa khớp dạng thấp, xuất huyết giảm tiểu cầu...


Các tiến bộ vượt bậc trong nghiên cứu về ghép tủy cũng như việc sử dụng nguồn tế bào gốc tạo máu ở máu ngoại vi và máu cuống rốn thay cho tủy xương, cải tiến các phương pháp phòng chống bệnh ghép chống chủ... đã tạo điều kiện tốt cho việc áp dụng phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu nhiều nơi trên thế giới.



4. Các phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu.


v    Ghép tự thân(Tự ghép tủy): Tự ghép tủy từ sản phẩm tế bào gốc của tủy hay của máu ngoại vi.


Chỉ định ghép tủy tự thân: Bệnh ác tính(Đa u tủy xương, U lympho nguyên bào thần kinh, U lympho không Hodgkin, Bệnh Hodgkin, Lơxêmi cấp…). Bệnh lành tính (Bệnh tự miễn, Bệnh Amyloidosis)


v    Ghép đồng loại (ghép đồng loài hay dị ghép tủy): Dị ghép tủy từ sản phẩm tế bào gốc của tủy hay của máu ngoại vi của anh chị em ruột hay người cho không có quan hệ huyết thống.


Chỉ định ghép tủy đồng loại: Bệnh ác tính( Lơxêmi cấp dòng tủy và lympho, U Lympho không Hodgkin, Bệnh Hodgkin, Lơxêmi kinh dòng bạch cầu hạt Hội chứng rối loạn sinh tủy). Bệnh lành tính Suy tủy xương, Thiếu máu Fanconi, Thalassemia thể major, Thiếu máu Diamond-Blackfan, Bệnh hồng cầu hình liềm).



5. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị ghép tủy



- Tình trạng  và giai đoạn bệnh lúc ghép tủy: là một trong những yếu tố tiên lượng quan trọng cho đáp ứng sau ghép tủy. Nếu bệnh nhân đạt được đáp ứng hoàn toàn hay ở giai đoạn mạn thì kết quả điều trị tốt hơn.


- Nguồn gốc tủy ghép: từ tủy xương hay máu ngoại vi, máu cuống rốn.


- Tuổi người được ghép tủy: tuổi là một yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến kết quả điều trị. Tuổi càng cao, tiên lượng càng xấu, nhất là ở tuổi sau 50 tuổi.


- Bệnh lý đi kèm: cần lưu ý các bệnh lý đi kèm như bệnh lý phổi, tim mạch, viêm gan siêu vi, nhiễm CMV.

Ths. Võ Thị Thanh Bình
05/08/2020 04:59